Mục 1 — Đại cương thần kinh học · Khám thần kinh
DC-KH-10
Khám dấu màng não
Kỹ thuật khám cứng gáy, Kernig, Brudzinski và jolt accentuation; cách diễn giải giới hạn chẩn đoán và nhận diện tình huống cần xử trí khẩn.
Tóm tắt điểm chính
- Dấu màng não hỗ trợ nhận diện kích thích màng não nhưng không xác định nguyên nhân; viêm màng não, xuất huyết dưới nhện và giả màng não đều có thể biểu hiện.
- Khám cứng gáy bằng gấp cổ thụ động chậm khi bệnh nhân nằm ngửa; đau cổ hoặc hạn chế mọi hướng không đồng nghĩa cứng gáy.
- Kernig và Brudzinski có độ nhạy thấp; kết quả âm tính không loại trừ viêm màng não.
- Jolt accentuation âm tính cũng không đủ an toàn để loại trừ viêm màng não hoặc tránh chọc dò khi lâm sàng còn nghi ngờ.
- Không cưỡng bức vận động cổ khi nghi chấn thương, mất vững cột sống cổ hoặc đau cổ cấp có dấu mạch máu–thần kinh.
- Nghi viêm màng não do vi khuẩn là cấp cứu; khám dấu màng não không được làm chậm kháng sinh, ổn định ban đầu hoặc chọc dò an toàn.
01Nguyên lý
Màng mềm ôm sát não và tủy; màng nhện giới hạn khoang dưới nhện chứa dịch não tủy, mạch máu và các rễ thần kinh. Viêm, máu hoặc thâm nhiễm trong khoang này làm các cấu trúc nhạy đau bị kéo căng khi gấp cổ hay duỗi gối.

“Dấu màng não” mô tả phản ứng khi khám, không phải chẩn đoán viêm màng não. Cứng gáy có thể gặp trong viêm màng não, xuất huyết dưới nhện, bệnh hệ thống nặng và một số tình trạng giả màng não. Ngược lại, viêm màng não thật sự có thể không có bất kỳ dấu cổ điển nào, nhất là sớm, ở người cao tuổi, suy giảm miễn dịch hoặc giảm tri giác [1–3].
02Chuẩn bị và chống chỉ định
Đánh giá nhanh đường thở, hô hấp, tuần hoàn, tri giác, đồng tử, co giật và dấu khu trú trước khi làm các nghiệm pháp. Hỏi chấn thương đầu–cổ, phẫu thuật cổ, viêm khớp dạng thấp, đau cổ nền và triệu chứng rễ/tủy. Tháo gối nếu an toàn, cho bệnh nhân nằm ngửa và giải thích từng động tác.
Không gấp hoặc xoay cổ cưỡng bức khi nghi chấn thương cột sống cổ, mất vững cổ, bệnh lý tủy cổ cấp, đau cổ sét đánh kèm thiếu hụt thần kinh hoặc bệnh nhân chống cự không rõ nguyên nhân. Không làm jolt accentuation nếu quay đầu làm tăng nguy cơ, gây đau dữ dội hoặc bệnh nhân không hợp tác.
03Khám cứng gáy
Quan sát chủ động
Quan sát tư thế đầu, xu hướng giữ cổ bất động và khả năng quay đầu tự nhiên. Hỏi bệnh nhân đưa cằm về ngực nếu không có chống chỉ định. Đau khu trú, co cơ và hạn chế vận động chủ động giúp nhận diện thành phần cơ–xương nhưng không thay thế khám thụ động.
Gấp cổ thụ động
Đặt một tay dưới chẩm, tay còn lại kiểm soát trán hoặc vai. Nâng đầu chậm để gấp cổ, đưa cằm về ngực mà không giật. Cảm nhận sức cản, quan sát đau và hỏi vị trí đau. Có thể thử xoay nhẹ hai bên để phân biệt mẫu hạn chế nếu cổ an toàn.

Cứng gáy điển hình là sức cản không chủ ý nổi bật khi gấp cổ. Đau và hạn chế cả gấp, duỗi, xoay thường phù hợp hơn với bệnh cơ–xương, nhưng hai tình trạng có thể cùng tồn tại. Ở bệnh nhân giảm tri giác, paratonia hoặc cứng đờ toàn thân có thể làm diễn giải khó.
Phân biệt sức cản khi gấp cổ thụ động với hạn chế vận động cổ do bệnh cơ–xương.
Nguồn: American Family Physician · mở trên YouTube
04Dấu Kernig
Cho bệnh nhân nằm ngửa. Gấp háng và gối một bên khoảng 90°, sau đó giữ háng ở vị trí đó và duỗi gối từ từ. Nghiệm pháp dương khi xuất hiện sức cản hoặc đau rõ ở mặt sau đùi/lưng do động tác kéo căng; so hai bên và dừng khi đau.

Co rút gân kheo, đau thần kinh tọa, bệnh khớp háng–gối và giảm hợp tác gây dương tính giả. Ghi vị trí đau và góc giới hạn thay vì chỉ ghi “Kernig (+)”. Không tạo lực mạnh để vượt qua sức cản.
05Dấu Brudzinski
Cho bệnh nhân nằm ngửa, hai chân duỗi và thả lỏng. Gấp cổ thụ động chậm trong khi quan sát háng và gối. Dấu cổ Brudzinski dương khi gấp cổ gây gấp háng và gối không chủ ý.

Phân biệt với bệnh nhân chủ động co chân vì đau hoặc lo lắng. Quan sát động tác ngay từ khi bắt đầu gấp cổ; lặp lại một lần sau giải thích nếu chưa chắc. Không cần tìm nhiều biến thể lịch sử của dấu Brudzinski trong khám thường quy.
Cách khám hai dấu kích thích màng não. Dấu âm tính không loại trừ viêm màng não hoặc xuất huyết dưới nhện.
Nguồn: Brigitte NP · mở trên YouTube
06Jolt accentuation
Chỉ làm ở bệnh nhân tỉnh, có đau đầu và không có chống chỉ định vận động cổ. Yêu cầu quay đầu ngang khoảng 2–3 lần mỗi giây trong vài giây. Dương tính khi đau đầu tăng rõ trong lúc lắc đầu; ghi mức tăng theo lời bệnh nhân.
Jolt accentuation từng được đề xuất như nghiệm pháp sàng lọc nhạy, nhưng các nghiên cứu sau không tái lập độ nhạy đủ cao. Phân tích gộp cho thấy độ nhạy ước tính khoảng 52%; kết quả âm không loại trừ tăng tế bào dịch não tủy [4]. Không dùng nghiệm pháp này để quyết định không chọc dò khi lâm sàng còn nghi ngờ.
07Diễn giải kết quả
Phân tích gộp chín nghiên cứu ghi nhận độ nhạy gộp khoảng 46% với cứng gáy, 23% với Kernig và 28% với Brudzinski. Kernig và Brudzinski có độ đặc hiệu cao hơn, khoảng 85–95%, nhưng bằng chứng không đồng nhất và chuẩn tham chiếu phần lớn là tăng tế bào dịch não tủy chứ không riêng viêm màng não do vi khuẩn [4].
| Kết quả | Diễn giải phù hợp | Không được kết luận |
|---|---|---|
| Cứng gáy dương | Tăng khả năng kích thích màng não trong bối cảnh phù hợp | Xác định viêm màng não hoặc nguyên nhân nhiễm khuẩn |
| Kernig/Brudzinski dương | Hỗ trợ hội chứng màng não; tìm nguyên nhân khẩn | Có thể bỏ qua khám thần kinh và xét nghiệm |
| Tất cả dấu âm | Không phát hiện dấu kích thích màng não tại thời điểm khám | Loại trừ viêm màng não hoặc xuất huyết dưới nhện |
| Đau cổ mọi hướng | Cân nhắc cơ–xương, cột sống cổ hoặc co cứng | Loại trừ bệnh màng não nếu bệnh sử nguy hiểm |
| Jolt âm | Đau đầu không tăng khi quay đầu | Tránh chọc dò hoặc ngừng đánh giá |
WHO 2025 vẫn khuyến nghị tìm cứng gáy, Kernig và Brudzinski nhưng nhấn mạnh độ nhạy hạn chế và không dùng sự vắng mặt để loại trừ viêm màng não [1]. NICE 2024 xem sốt, đau đầu, cứng gáy và thay đổi tri giác/nhận thức là tổ hợp báo động ở người lớn, đồng thời lưu ý biểu hiện có thể không đầy đủ [2].
TOOL-DNTDiễn giải dịch não tủyHiệu chỉnh khi chọc dò có máu, tính tỉ lệ glucose và gợi ý nhóm nguyên nhân.Mở công cụ →08Ghép với khám thần kinh
Khám đồng thời tri giác, hành vi, ngôn ngữ, đồng tử, vận nhãn, dây sọ, vận động, cảm giác, phản xạ, da và dấu nhiễm trùng toàn thân. Thiếu hụt khu trú, co giật mới, đồng tử bất thường hoặc tri giác giảm gợi tổn thương nhu mô, khối choán chỗ hoặc tăng áp lực nội sọ và ảnh hưởng đến kế hoạch chọc dò [1,2].
| Mẫu lâm sàng | Ưu tiên nghĩ đến |
|---|---|
| Sốt, đau đầu, cứng gáy, rối loạn tri giác | Viêm màng não/viêm não–màng não |
| Đau đầu sét đánh, nôn, ngất, cứng gáy có thể muộn | Xuất huyết dưới nhện |
| Đau cổ khu trú theo vận động, không sốt hay đau đầu nguy hiểm | Nguyên nhân cơ–xương |
| Sốt, ban xuất huyết không mất màu, sốc | Bệnh não mô cầu xâm lấn hoặc nhiễm khuẩn huyết |
| Sốt, yếu khu trú, co giật, phù gai | Viêm não, áp xe hoặc biến chứng nội sọ |
Phần xử trí, chọc dò và chẩn đoán phân biệt chi tiết thuộc bài canonical DC-HC-05 — Hội chứng màng não; bài này tập trung vào kỹ thuật khám.
09Cách ghi hồ sơ
Bệnh nhân tỉnh, hợp tác. Không tiền sử chấn thương cổ. Gấp cổ thụ động có sức cản rõ, xoay cổ ít hạn chế; đau lan vùng chẩm. Kernig âm hai bên, Brudzinski cổ dương. Jolt không thực hiện do đau cổ nhiều. Không liệt khu trú, đồng tử đều phản xạ, không ban xuất huyết. Các dấu âm không dùng để loại trừ viêm màng não.
Ghi kỹ thuật đã làm, bên, phản ứng quan sát được, lý do không làm và các dấu báo động đi kèm. Tránh ghi một dòng “dấu màng não (+)” mà không mô tả thành phần.
10Bẫy thường gặp
| Bẫy | Cách tránh |
|---|---|
| Cưỡng bức gấp cổ khi chưa loại trừ chấn thương | Hỏi cơ chế, bất động và đánh giá cột sống cổ trước |
| Đồng nhất đau cổ với cứng gáy | Mô tả hướng hạn chế, sức cản và vị trí đau |
| Gọi co chân chủ động là Brudzinski | Giải thích, quan sát từ đầu và xác nhận không chủ ý |
| Gọi căng gân kheo là Kernig | So hai bên, hỏi vị trí đau và xem bệnh cơ–xương |
| Dùng bộ dấu âm để loại trừ viêm màng não | Dựa vào toàn cảnh và chọc dò khi có chỉ định |
| Làm khám kéo dài trước cấp cứu | Ưu tiên ổn định, kháng sinh và quy trình chẩn đoán khẩn |
11Công cụ liên quan
12Bài liên quan
13Tài liệu tham khảo
- World Health Organization. WHO guidelines on meningitis diagnosis, treatment and care. Geneva: WHO; 2025. https://www.who.int/publications/i/item/9789240108042.
- National Institute for Health and Care Excellence. Meningitis (bacterial) and meningococcal disease: recognition, diagnosis and management. NICE guideline NG240; 2024. https://www.nice.org.uk/guidance/ng240.
- Menon A, Nair M. Clinical Neurological Examination and Localization. 2nd ed. Elsevier; 2024.
- Akaishi T, Kobayashi J, Abe M, et al. Sensitivity and specificity of meningeal signs in patients with meningitis. J Gen Fam Med. 2019;20(5):193–198. doi:10.1002/jgf2.268.
- Biller J, Gruener G, Brazis PW. DeMyer's The Neurologic Examination: A Programmed Text. 7th ed. McGraw Hill; 2023.
- DeJong RN, Campbell WW. DeJong's The Neurologic Examination. 8th ed. Wolters Kluwer; 2020.
- Thomas KE, Hasbun R, Jekel J, Quagliarello VJ. The diagnostic accuracy of Kernig's sign, Brudzinski's sign, and nuchal rigidity in adults with suspected meningitis. Clin Infect Dis. 2002;35(1):46–52. doi:10.1086/340979.
- Waghdhare S, Kalantri A, Joshi R, Kalantri S. Accuracy of physical signs for detecting meningitis: a hospital-based diagnostic accuracy study. Clin Neurol Neurosurg. 2010;112(9):752–757. doi:10.1016/j.clineuro.2010.06.003.
Nhật ký thay đổi
- 31/08/2026 — Bản đầu tiên; chuẩn hóa bốn nghiệm pháp và bốn hình minh họa từ hai thư viện nội bộ